Loading...

Thừa Giáo Viên THCS, Thiếu Giáo Viên Tiểu Học Cho Chương Trình Phổ Thông Mới

Theo thông tin được Bộ GD- ĐT công bố tại hội nghị triển khai công tác chuẩn bị các điều kiện để áp dụng chương trình, SGK mới do Sở GD- ĐT Hà Nội tổ chức ngày 20/01 thì hiện giáo viên tiểu học đang thiếu những giáo viên THCS lại thừa.

Giáo viên tiểu học thiếu trầm trọng

Để có thể áp dụng chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học SGK mới, Bộ GD-ĐT đã đưa ra những điều kiện. Theo đó, những điều kiện này được lấy kết quả từ những cuộc rà soát thực trạng giáo viên hiện nay ở các cấp học và số lượng giáo viên dự báo cần cho chương trình mới.

Với chương trình giáo dục phổ thông mới, theo tính toán của Bộ GD-ĐT thì số lượng nhân sự của ngành giáo dục tại các cấp học cơ bản không có sự biến đổi nhiều so với số lượng giáo viên hiện có.

Cụ thể, với bậc tiểu học, bình quân một năm có 2% số lượng giáo viên nghỉ hưu, tương ứng với con số 7940 giáo viên. Vậy nên, chúng ta mỗi năm cần tuyển thêm khoảng  3.970 giáo viên để bù vào số lượng giáo viên nghỉ hưu. Nếu tính thêm cả việc tăng quy mô giáo dục tại các trường, các cấp, mỗi năm cần tuyển thêm 3.900 giáo viên, vậy tổng cả, chúng ta sẽ phải cần 7.000 nghìn giáo viên mới cho mỗi năm.

Với những tính toán và các con số cụ thể ở trên, Bộ GD-ĐT yêu cầu các sở, ban ngành giáo dục ở các địa phương cần tính toán cụ thể, kĩ lưỡng số lượng giáo viên cần tuyển vào theo nhu cầu mỗi năm. Đặc biệt ưu tiên tuyển dụng giáo viên ở cấp tiểu học, giáo viên ở các bộ môn Tiếng Anh, Tin học do số lượng giáo viên giảng dạy có chuyên môn của các môn học này đang rất thiếu. Hay như với các môn Âm nhạc, Thể dục, Mỹ thuật thì lại không nên tuyển nữa vì các giáo viên được đào tạo cả chuyên môn cho các môn này rồi.

chuong trinh giao duc pho thong cap tieu hoc

Thừa giáo viên THCS thiếu giáo viên tiểu học cho chương trình phổ thông mới

Lộ trình được đặt ra là bắt đầu từ năm học 2021-2022 đến năm học 2023-2024, số lượng giáo viên Tiếng Anh cần bổ sung mỗi năm là 2.000 giáo viên và giáo viên giảng dạy môn tin học cũng là 2.000 giáo viên. Cùng với đó, Bộ GD-ĐT sẽ rà soát để tuyển dụng lại số lượng giáo viên mà đang còn trong diện hợp đồng lao động ở bộ môn Tiếng Anh và Tin Học.

Số lượng giáo viên Tiếng Anh đang thiếu là 5.616, giáo viên Tin Học là 5.607.

Dừng, hoãn việc tuyển giáo viên mới để giải quyết tình trạng thừa giáo viên THCS

Trái ngược với sự dư thừa giáo viên ở cấp tiểu học, ở cấp THCS, lượng giáo viên lại đang khá dư thừa. Bình quân mỗi năm có 2% số lượng giáo viên nghỉ hưu ở cấp THCS, con số tương đương đó là 6.219 giáo viên. Giống như với cấp tiểu học, ta cần tuyển mới 3.110 giáo viên để bù vào lượng giáo viên nghỉ hưu và 1.250 giáo viên mới để đáp ứng như cầu do việc tăng quy mô học sinh, quy mô giáo dục.

So sánh với số lượng giáo viên hiện đang dư thừa ở cấp THCS là 9.246 (tính đến tháng 11/2017) từ đó, các địa phương phải hoạch toán ra được số lượng giáo viên cần tuyển mới cần tuyển mỗi năm cụ thể ở các môn. Môn nào nên dừng, môn nào cần bổ sung cho phù hợp, giải quyết số lượng giáo viên dư thừa hợp lí.

Ví dụ như đối với bộ môn tin học, trong chương trình mới (theo chương trình hiện hành là môn học tự chọn) số lượng giáo viên đã vừa đủ cho tất cả các trường THCS.

Bộ GD-ĐT đề xuất, đối với những địa phương hiện đang dư thừa giáo viên, có thể tạm dừng tuyển giáo viên mới trong khoảng 3 năm học tới đây để có thể giải quyết dứt điểm tình trạng thừa nhân lực hiện tại. Bên cạnh đó cần rà soát, sắp xếp, điều tiết giáo viên sao cho  hợp lý giữa các trường trên địa bàn để xếp chuẩn xác về số lượng giáo viên và cơ cấu môn học cho từng trường THCS trong số lượng đang có hiện tại.

Tuy nhiên, các sở giáo dục ở các địa phương cần rà soát ngay để nắm được số lượng giáo viên mà các trường ở địa phương mình cần tuyển dụng theo dạng biên chế, hợp đồng. Từ đó, đưa ra được những phương án tuyển dụng hợp lí cho Bộ GD-ĐT ngay trong đầu năm học năm 2018-2019.

Sẽ xây dựng 50 chương trình đào tạo

Cũng tại cuộc họp, Bộ GD-ĐT công bố lộ trình từ nay đến năm 2024 sẽ ban hành tiêu chuẩn cùng chuẩn của các chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lí cấp phổ thông , thống nhất trong cả nước. Trong đó có cả đào tạo giáo viên giảng dạy các môn học mới.

Bộ cũng nhấn mạnh và quan tâm để công tác giáo dục tại các trường sư phạm trọng điểm, yêu cầu phối hợp ngay với các cơ sở đào tạo giáo viên, cán bộ quản lí các trường phổ thông và Chương trình ETEP tổ chức các đợt tập huấn về đổi mới chương trình, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông.

Bên cạnh đó, thực hiện ngay công tác nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung đào tạo để có thể xây dựng nên một hệ thống 50 chương trình đào tạo mới, thống nhất trên toàn quốc. Thực hiện công tác đào tạọ, bồi dưỡng giáo viên phù hợp cho chương trình mới thay đổi để có được đầy đủ nghiệp vụ đáp ứng khi đứng lớp giảng dạy chương trình mới, SGK mới. Phối hợp cùng các sở, ban ngành tại các địa phương để xây dựng chương trình, tài liệu, tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ, tăng thêm nền tảng và năng lực nghề nghiệp cho giáo viên.

Những khó khăn khi áp dụng chương trình giáo dục mới

Hiên nay, trên cả nước có 28.177 trường giáo dục phổ thông công lập, trong đó: 15.050 trường tiểu học; 10.697 trường THCS; 2.430 trường THPT. Số lượng học sinh là 14.883.647 học sinh cho 476.924 lớp nhưng chỉ có 419.903 phòng học.

Đấy là điều kiện địa điểm học tập không đáp úng, ta còn có cả vấn đề về việc thiếu thốn trang thiết bị dạy học cho tất cả các bộ môn. Hệ thống thư viện không đáp ứng được yêu cầu cần có để phục vụ văn hóa đọc cho học sinh trong trường.

Số lượng cơ sở vật chất nếu tính về số lượng không những không đáp ứng được mà số lượng hiện có cũng không phải hoàn toàn sử dụng được tốt. Tại các cơ sở giáo dục (đặc biệt ở những địa phương ở vùng núi, vùng sâu vùng xa ) chất lượng điều kiện học tập và giảng dạy cho giáo viên và học sinh thực sự vô cùng không đảm bảo. Phòng học tạm bợ, không đủ để che mưa, che nắng; còn phải đi thuê, mượn cơ sở ở bên ngoài.

Thống kê số lượng cơ sở vật chất của giáo dục Việt Nam

Cả nước có 419.903 phòng học, tuy vậy chỉ có khoảng 323.551 phòng học kiên cố, chiếm tỷ lệ 77,1% (tiểu học 68,7%, trung học cơ sở 85,7%, trung học phổ thông 93,9%).

Tỷ lệ trung bình phòng học/ lớp là 0,88 trong đó: tiểu học 0,89; trung học cơ sở 0,86; trung học phổ thông 0,88.

Tỷ lệ trung bình phòng học kiên cố/ lớp là 0,68 trong đó: tiểu học 0,61; trung học cơ sở 0,74; trung học phổ thông 0,83.

Phòng học bộ môn:

Cấp THCS có 30.817 phòng/10.697 trường/146.910 lớp, tương ứng với tỷ lệ 2,88 phòng/trường ( nhưng số phòng đáp ứng yêu cầu chỉ  là 20.573 phòng, chiếm tỷ lệ 66,8%).

Cấp THPT có 11.750 phòng/2.349 trường/60.084 lớp, tương đương tỷ lệ 5 phòng/trường ( nhưng số phòng đáp ứng yêu cầu chỉ là 8.555 phòng, chiếm tỷ lệ 72,8%).

Số lượng thiết bị phòng học của các bộ môn chỉ đáp ứng được  68% nhu cầu giảng dạy của giáo viên và học sinh.

Tóm lại, công tác đổi mới, đưa nền giáo dục của Việt Nam còn rất nhiều chông gai, cần sự nỗ lực rất nhiều từ nhà nước, các cấp, ban ngành hỗ trợ.

Bạn thích bài viết này ?

Để lại bình luận

Be the First to Comment!

avatar
DMCA.com Protection Status